ĐỘC LẬP DÂN TỘC GẮN LIỀN VỚI CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – GIÁ TRỊ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI CỦA ĐẤT NƯỚC

Thứ ba - 24/02/2026 03:02
Bài viết khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là luận điểm trung tâm, xuyên suốt và có ý nghĩa phương pháp luận đối với toàn bộ tiến trình cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam nhất quán xác định đây là con đường phát triển tất yếu, bảo đảm sự thống nhất biện chứng giữa giải phóng dân tộc và giải phóng con người.Văn kiện Đại hội XIII và XIV tiếp tục khẳng định mục tiêu xây dựng nước Việt Nam phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu phát triển nhanh và bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược. Thực tiễn tăng trưởng kinh tế ổn định, bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội là minh chứng cho tính đúng đắn của con đường đã lựa chọn, trong đó xây dựng, chỉnh đốn Đảng giữ vai trò quyết định bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

1. Đặt vấn đề

Trong lịch sử tư tưởng chính trị Việt Nam hiện đại, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là một trong những luận điểm trung tâm, xuyên suốt và có ý nghĩa phương pháp luận đối với toàn bộ tiến trình cách mạng. Luận điểm này không chỉ xác lập mục tiêu chiến lược, mà còn định hình mô hình phát triển của quốc gia trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay luôn nhất quán khẳng định: con đường phát triển của Việt Nam là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội (1). Sự nhất quán đó bắt nguồn từ sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, dưới ánh sáng tư tưởng của Hồ Chí Minh (2).

Bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, việc tiếp tục làm rõ nội hàm lý luận và giá trị thực tiễn của luận điểm này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.


2. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – một tất yếu lịch sử và sự lựa chọn phù hợp quy luật

Xét từ phương diện lý luận hình thái kinh tế – xã hội, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xác lập chủ quyền chính trị – pháp lý của một quốc gia; song, nếu không gắn với một phương thức phát triển tiến bộ, nền độc lập ấy khó có thể bền vững. Trong quan niệm của Chủ tịch Hồ Chí Minh, chủ nghĩa xã hội không chỉ là một mô hình kinh tế – chính trị, mà là một xã hội trong đó con người được phát triển toàn diện, được bảo đảm quyền làm chủ và hưởng thành quả phát triển. Người khẳng định: “Nước được độc lập mà dân không được hưởng hạnh phúc, tự do thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (3). Luận điểm này thể hiện rõ tính biện chứng giữa mục tiêu dân tộc và mục tiêu xã hội, giữa giải phóng dân tộc và giải phóng con người.

Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, sự kết hợp giữa phát triển lực lượng sản xuất hiện đại với xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp là yêu cầu khách quan. Điều đó đòi hỏi phải giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.


3. Phát triển nhận thức lý luận trong Văn kiện Đại hội XIV

Văn kiện của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục khẳng định rõ: “Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới; vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc.” (4)

Đây là sự tái khẳng định có tính nguyên tắc trong bối cảnh tình hình thế giới diễn biến nhanh, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gia tăng, các yếu tố an ninh phi truyền thống nổi lên.

Đại hội XIV đồng thời nhấn mạnh yêu cầu: “Phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng, hiệu quả.” (5)

Điểm mới nổi bật là sự nhấn mạnh năng lực tự chủ chiến lược của nền kinh tế trong điều kiện hội nhập. Điều này cho thấy nội hàm của độc lập dân tộc trong giai đoạn hiện nay đã được mở rộng: không chỉ là độc lập về chính trị – lãnh thổ, mà còn là tự chủ về kinh tế, công nghệ, năng lượng và năng lực hoạch định chính sách.


4. Thực tiễn kinh tế – xã hội: Cơ sở vật chất của độc lập và tiền đề của chủ nghĩa xã hội

Thực tiễn những năm gần đây cho thấy nền kinh tế Việt Nam tiếp tục duy trì đà tăng trưởng khá cao, với tốc độ tăng GDP năm 2025 đạt khoảng 8%; quy mô nền kinh tế vượt 500 tỷ USD; GDP bình quân đầu người trên 5.000 USD (6). Những chỉ tiêu này phản ánh sự gia tăng năng lực sản xuất và sức cạnh tranh quốc gia – nền tảng vật chất của độc lập dân tộc trong điều kiện mới.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu duy trì ở mức cao, xuất siêu được giữ vững, lạm phát được kiểm soát. Điều đó cho thấy nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam đã và đang vận hành theo quy luật thị trường, đồng thời dưới sự điều tiết của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa nhằm bảo đảm ổn định vĩ mô và định hướng phát triển.

Ở phương diện xã hội, tỷ lệ thất nghiệp duy trì ở mức thấp (khoảng 2,2%); lực lượng lao động có việc làm tăng; năng suất lao động được cải thiện (7). Những chỉ số này phản ánh sự kết hợp giữa tăng trưởng và tiến bộ xã hội – biểu hiện cụ thể của định hướng xã hội chủ nghĩa.

Thực tiễn đó chứng minh rằng, con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không chỉ có cơ sở lý luận vững chắc mà còn có nền tảng thực tiễn ngày càng rõ ràng.


5. Xây dựng Đảng – điều kiện bảo đảm tính định hướng và bền vững

Trong mô hình phát triển ở Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Văn kiện Đại hội XIV xác định:

“Tiếp tục đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng.” (8)

Đây là điều kiện chính trị tiên quyết để giải quyết hiệu quả các mối quan hệ lớn trong phát triển: giữa ổn định và đổi mới; giữa tăng trưởng và công bằng; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.


6. Kết luận

Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội không chỉ là một khẩu hiệu chính trị, mà là một phạm trù lý luận có tính quy luật của cách mạng Việt Nam, được hình thành trên cơ sở vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào điều kiện lịch sử – cụ thể của dân tộc. Thực tiễn gần một thế kỷ qua đã kiểm nghiệm và khẳng định: chỉ trên nền tảng độc lập dân tộc mới có điều kiện xây dựng chủ nghĩa xã hội; và chỉ đi lên chủ nghĩa xã hội mới bảo đảm vững chắc độc lập dân tộc theo nghĩa đầy đủ và bền vững.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa sâu rộng và cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, nội hàm của luận điểm này tiếp tục được phát triển theo hướng tăng cường tự chủ chiến lược, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Đó cũng chính là con đường hiện thực hóa mục tiêu mà Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “Đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, phấn đấu trở thành nước phát triển, thu nhập cao” (9). Đại hội XIV tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội XIII, tái khẳng định mục tiêu đến năm 2045 đưa nước ta trở thành nước phát triển, thu nhập cao; đồng thời bổ sung những yêu cầu mới về năng lực tự chủ chiến lược, đổi mới sáng tạo và hoàn thiện thể chế để bảo đảm hiện thực hóa mục tiêu đó trong điều kiện mới.

Kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời không ngừng đổi mới tư duy lý luận và phương thức tổ chức thực tiễn, nâng cao năng lực lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, chính là bảo đảm căn bản để hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc – mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam từ năm 1945 đến nay.


(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021, tr. 25–26.

(2) Hồ Chí Minh: Toàn tập, t. 4, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr. 62–64.

(3) Sđd., t. 4, tr. 64.

(4) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026, tr. 18.

(5) Sđd., tr. 54–55.

(6) Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2026, tr. 5–7.

(7) Sđd., tr. 12–13.

(8) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội, Sđd., tr. 112.

(9) Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội, t. I, Sđd., tr. 36.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, t. I, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2021.

2. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2026.

3. Hồ Chí Minh: Toàn tập, 15 tập, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011.

4. Tổng cục Thống kê: Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2025, Nxb. Thống kê, Hà Nội, 2026.

 

                                                                                                                                               Đinh Thị Trúc Ngân

                                                                                                                         Phó Trưởng ban Tuyên giáo và Dân vận Đảng ủy

  Ý kiến bạn đọc

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

lichh
DIEN DAN
TU LIEU VAN KIEN
PHAN ANH KIEN NGHI
nghien cuu ll ct
Thành viên
  • Đang truy cập32
  • Hôm nay116
  • Tháng hiện tại1,671
  • Tổng lượt truy cập10,152

Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng

Thời gian đăng: 13/04/2026

lượt xem: 1 | lượt tải:0

KẾT LUẬN SỐ 18-KL/TW CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG

Thời gian đăng: 13/04/2026

lượt xem: 1 | lượt tải:1

NHỮNG VẤN ĐẾ MỚI, CỐT LÕI CỦA NGHỊ QUYẾT VỀ ĐỔI MỚI, NÂNG CAO HIỆU LỰC CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT ĐẢNG, QUY ĐỊNH VỀ CÔNG TÁC KIỂM TRA, GIÁM SÁT VÀ KỶ LUẬT CỦA ĐẢNG

Thời gian đăng: 13/04/2026

lượt xem: 1 | lượt tải:0

BÁO CÁO CHUYÊN ĐỀ VỀ QUY ĐỊNH THI HÀNH ĐIỀU LỆ ĐẢNG CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XIV

Thời gian đăng: 13/04/2026

lượt xem: 1 | lượt tải:0

01-NQ/TU

Nghị quyết Đại hội Đại biểu tỉnh Đồng Nai lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030

Thời gian đăng: 19/03/2026

lượt xem: 7 | lượt tải:6
Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây